Lao động là gì và phân loại xuất khẩu lao động

1. Khái niệm lao động

Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. Thực chất là sự vận động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người.Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế.
+ lao động là yếu tố đầu tiên, cần thiết cho sự phát triển của một xã hội
+ là yếu tố cơ bản quyết định trong quá trình sản xuất
+ là yếu tố quyết định sự giàu có của một xã hội
+ là một yếu tố giúp con người trở nên hoàn thiện hơn

2. Phân loại xuất khẩu lao động:

Căn cứ vào cơ cấu người lao động đưa đi:
+ Lao động có nghề: là loại lao động trước khi ra nước ngoài làm việc đã được đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nước ngoài làm việc có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra thời gian và chi phí để tiến hành đào tạo nữa.
+ Lao động không có nghề: là loại lao động mà khi ra nước ngoài làm việc chưa được đào tạo một loại nghề nào cả. Loại lao động này thích hợp với những công việc đơn giản, không cần trình độ chuyên môn hoặc phía nước ngoài cần phải tiến hành đào tạo cho mục đích của mình trước khi đưa vào sử dụng.
Căn cứ vào nước xuất khẩu lao động:
+ Nhóm các nước phát triển: Có xu hướng gửi lao động kỹ thuật cao sang các nước đang phát triển để thu ngoại tệ. Trường hợp này không phải là chảy máu chất xám mà là đầu tư chất xám có mục đích. Việc đầu tư nhằm một phần thu lại kinh phí đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm, một phần khác lớn hơn là phát huy năng lực trình độ đội ngũ chuyên gia, công nhân kỹ thuật bậc cao ở nước ngoài.v.v… để thu ngoại tệ.
+ Nhóm các nước đang phát triển: có xu hướng gửi lao động bậc trung hoặc bậc thấp sang các nước có nhu cầu để lấy tiền công và tích luỹ ngoại tệ, giảm bớt khó khăn kinh tế và sức ép việc làm trong nước.

3. Các hình thức của lao động:

+ Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi một lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng. Chính những cái riêng đó phân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau. Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Trong xã hội có nhiều loại hàng hóa với những giá trị sử dụng khác nhau là do có nhiều loại lao động cụ thể khác nhau. Nếu phân công lao động xã hội càng phát triển thì càng có nhiều giá trị sử dụng khác nhau để đáp ứng nhu cầu của xã hội.
+ Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó, hay nói cách khác, đó chính là sự tiêu hao sức lao động (tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh) của người sản xuất hàng hóa nói chung. Chính lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa mới tạo ra giá trị của hàng hóa. Như vậy, có thể nói, giá trị của hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Đó cũng chính là mặt chất của giá trị hàng hóa. Lao động trừu tượng mang phạm trù lịch sử.
 

4. Tổ chức sử dụng lao động

4.1. Tổ chức phân công nhiệm vụ lao động

* Nguyên tắc phân công nhiệm vụ lao động
– Phân công phải đảm bảo phù hợp giữa khả năng với nhiệm vụ được giao
– Phải căn cứ vào yêu cầu công việc về định người
– Phải gắn liền giữa trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi
– Phải đảm bảo có thể quản lý được về mặt khoản cách không gian, thời gian và số lượng người
– Phân công bố trí xen kẽ giữa lao động có trình độ cao với lao động có trình độ thấp
– Phân công công việc giữa các tổ, các đội phải đảm bảo nhịp nhàng trong một thời gian dài sao cho không phải ngừng việc hoặc bị thay đổi tốc độ công việc để chờ nhau

4.2. Tổ chức quá trình nơi làm việc

Trong xây lắp tổ chức lao động gồm:
+ xác định cơ cấu về số lượng và chất lượng lao động tham gia sản xuất
+ bố trí hợp lý mặt bằng thi công, nơi làm việc sao cho người lao động phải di chuyển là ít nhất
+ thực hiện tốt công việc phục vụ nơi làm việc
+ cung cấp vật tư, điện nước đầy đủ và đúng tiến độ
+ tổ chức thi công tốt, hợp lý, căn cứ vào điều kiện nơi làm việc mà lựa chọn các hình thức tổ đội chuyên môn hóa hay đa năng, chọn biện pháp thi công tuần tự, song song hay dây chuyền
+ cải tiến định mức lao động khoa học phù hợp
+ khuyến khích phát huy tính sáng tạo và quyền làm chủ của người lao động
+ chú trọng đào tạo nâng cao tay nghề người lao động, đồng thời kết hợp với biện pháp khuyến khích vật chất để nâng cao tính trách nhiệm và tự giác người lao động

4.3. Tổ chức bộ máy quản lý lao động

– Ở mỗi doanh nghiệp thường phân ra các phong ban với chức năng chuyên trách khác nhau. Các phòng ban này phối hợp với phòng tổ chức cán bộ, lao động và tiền lương, phòng hành chính nhân sự để tổ chức lao động một cách hợp lý.

4.4. Đại hội công nhân viên chức và hội đồng quản trị doanh nghiệp

Để phát huy quyền dân chủ của người lao động trong sản xuất – kinh doanh Nhà nước quy định việc áp dụng các hình thức đại hội công nhân viên chức hằng năm, hội đồng quản trị doanh nghiệp và ban thanh tra của doanh nghiệp với sự tham gia của công nhân sản xuất.
Các bài viết có thể xem thêm:
Du lịch sinh thái là gì
Lý tưởng sống
Pic là gì

Sự cần thiết phải tạo động lực trong lao động.

1. Khái niệm động lực là gì

Động lực là động cơ thúc đẩy tất cả các hành động của con người. Đây là một trạng thái nội tại, cung cấp sinh lực và hướng con người vào những hành vi có mục đích. Nền tảng của động lực là các cảm xúc, mà cụ thể, nó dựa trên sự né tránh, những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực và tìm kiếm những cảm xúc tích cực.

2. Tạo động lực lao động:

Đây là vấn đề thuộc lĩnh vực quản trị của mỗi doanh nghiệp. Các nhà quản trị trong tổ chức muốn xây dựng công ty, xí nghiệp mình vững mạnh thì phải dùng các biện pháp kích thích người lao động làm cho họ hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc. Đây là vấn đề về tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp.
Vậy tạo động lực cho người lao động được hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng vào người lao động nhằm tạo ra động cơ cho người lao động, ví dụ như: thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa phù hợp với mục tiêu của người lao động vừa thoả mãn được mục đích của doanh nghiệp, sử dụng các biện pháp kích thích về vật chất lẫn tinh thần.
Vậy vấn đề quan trọng của động lực đó là mục tiêu. Nhưng để đề ra được những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của người lao động, tạo cho người lao động sự hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết được mục đích hướng tới của người lao động sẽ là gì. Việc dự đoán và kiểm soát hành động của người lao động hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ. Nhà quản trị muốn nhân viên trong doanh nghiệp của mình nỗ lực hết sức vì doanh nghiệp thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động đồng thời tạo mọi điều kiện cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Các nhà quản trị đã từng nói “Sự thành bại của công ty thường phụ thuộc vào việc sử dụng hợp lý nhân viên trong doanh nghiệp như thế nào”

3. Ví dụ về người đã tìm ra công thức tạo động lực cho bản thân

Người đàn ông này từng là một nhà sản xuất mỹ phẩm thành công và ông đã quyết định nghỉ hưu ở tuổi 65. Mỗi năm, vào sinh nhật của ông, người thân và bạn bè thường yêu cầu ông tiết lộ công thức thành công của mình. Hết lần này đến lần khác, ông luôn tìm cách từ chối khéo. Vào sinh nhật lần thứ 75 của ông, bạn bè ông lại đưa ra lời yêu cầu đó.
Ông đáp: “Các bạn đã quá tốt với tôi trong suốt những năm qua. Chính lẽ đó, hôm nay tôi quyết định sẽ tiết lộ bí mật cho các bạn. Các bạn thấy đấy, ngoài những công thức đã được các hãng mỹ phẩm khác áp dụng, tôi còn bổ sung bí quyết của riêng mình”.
Mọi người liền hỏi: “Bí quyết đấy là gì?”
“Tôi chưa bao giờ hứa với phụ nữ rằng mỹ phẩm của tôi sẽ giúp họ đẹp lên, nhưng tôi luôn đem cho họ hy vọng.”
Hy vọng chính là công thức thần kỳ!
Hy vọng là khát vọng của con người hướng đến một mục tiêu nào đó và tin tưởng rằng mục tiêu ấy nhất định sẽ đạt được. Con người thường chủ động phản ứng dựa trên những gì mình khao khát, tin tưởng và cho rằng có thể đạt được.
Niềm hy vọng đã tạo động lực cho nhà sản xuất mỹ phẩm này gây dựng cơ đồ. Hy vọng tạo động lực khiến phụ nữ mua mỹ phẩm. Và hy vọng cũng sẽ tạo động lực cho bạn.
– Mười động cơ nền tảng có thể truyền cảm hứng cho bạn. Mỗi suy nghĩ hay mỗi hành động dù tự phát của bạn đều bắt nguồn từ một hoặc nhiều động cơ kết hợp lại. Dưới đây là mười động cơ nền tảng có thể truyền cảm hứng cho mọi suy nghĩ hay hành động của con người.
– Khi học cách tạo động lực cho bản thân hay cho người khác, dù với bất kỳ mục đích nào, bạn cần hiểu rõ mười động cơ nền tảng đó, bao gồm:
 

  1. Ước muốn TỰ VỆ
  2. Cảm xúc YÊU THƯƠNG
  3. Cảm giác SỢ HÃI
  4. Cảm xúc TÌNH DỤC
  5. Ước muốn được SỐNG SAU KHI CHẾT(bất tử)
  6. Ước muốn được TỰ DO VỀ MẶT THỂ CHẤT VÀ TINH THẦN
  7. Cảm xúc GIẬN DỮ
  8. Cảm xúc CĂM GHÉT
  9. Ước muốn ĐƯỢC THỪA NHẬN và TỰ THỂ HIỆN MÌNH
  10. Ước muốn ĐƯỢC GIÀU CÓ VỀ MẶT VẬT CHẤT

 

4. Sự cần thiết phải tạo động lực trong lao động.

 

  • Đối với cá nhân người lao động.

 
Con người luôn có những nhu cầu cần được thỏa mãn về cả hai mặt vật chất và tinh thần. Khi người lao động cảm thấy những nhu cầ của mình được đáp ứng sẽ tạo tâm lý tốt thúc đẩy người lao động làm việc hăng say hơn. Đối với cá nhân người lao động không có động lực lao động thì hoạt động lao động khó có thể đạt được mục tiêu của nó bởi vì khi đó họ chỉ lao động hoàn thành công việc được giao mà không có được sự sáng tạo hay cố gắng phấn đấu trong lao động, họ chỉ coi công việc đang làm như một nghĩa vụ phai thực hiện theo hợp đồng lao động mà thôi. Do đó nhà quản lý cần phải tạo được động lực thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực làm việc của nhân viên.
Người lao động chỉ hoạt động tích cực khi mà họ được thỏa mãn một cách tương đối những nhu cầu của bản thân. Điều này thể hiện ở lợi ích mà họ được hưởng. Khi mà người lao động cảm thấy lợi ích mà họ nhận được không tương xứng với những gì họ bỏ ra họ cảm thấy không thỏa mãn được những nhu cầu của mình thì sẽ gây ra cảm giác chán nản làm việc không tập trung cao. Lợi ích là phương tiện để thỏa mãn nhu cầu nên lợi ích mà người lao động nhân được phải tương xứng với những gì họ cống hiến thì mới tạo ra động lực cho họ làm việc.
Động lực lao động còn giúp cho người lao động có thể tự hoàn thiện mình. Khi có được động lực trong lao động người lao động có được nỗ lực lớn hơn để lao động học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình. Nếu không có động lực
 

  • Đối với doanh nghiệp.

 
Hiện nay nước ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Kinh nghiệm của Nhật Bản và các “con rồng Châu Á” cho thấy phải tiến ra con đường đi riêng phù hợp với đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội Việt Nam. Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn vì phải đuổi kịp trình độ khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới trong một thời gian ngắn với điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu và thiếu vốn đầu tư. Một trong những giải pháp tình thế là tăng năng suất lao động để có thể tạo ra lợi nhuận cao hơn trên cơ sở trang thiết bị và vốn sẵn có, do đó có tốc độ tích luỹ vốn nhanh hơn. Vì lý do nêu trên, vấn đề kích thích lao động hiện đang là mối quan tâm của nhiều nhà lãnh đạo và quản lý. Mặt khác, khi vấn đề vốn đầu tư và trang thiết bị đã được giải quyết thì tăng năng suất và kích thích lao động sáng tạo vẫn là vấn đề bức xúc cần đầu tư giải quyết thích đáng để doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung có thể phát triển nhanh và có hiệu quả.Kích thích lao động là tạo ra sự thôi thúc bên trong của con người đến với lao động, sự thôi thúc đó được tạo ra dựa trên một tác động khách quan nào đó lên ý thức. Do đó, khi kích thích bất cứ hoạt động lao động nào, người ta phải chú ý đến các yếu tố tâm lý như mục đích công việc, nhu cầu, hứng thú, động cơ làm việc của mỗi cá nhân và hàng loạt các đặc điểm tâm lý cá nhân cũng như tập thể khác, từ đó mới có thể hình thành được biện pháp kích thích hữu hiệu. Có thể kích thích lao động bằng vật chất, bằng giao tiếp hoặc băng cách thoả mãn các nhu cầu khác của con người tạo ảnh hưởng đến hành vi, cụ thể là nó có thể định hướng, điều chỉnh hành vi của cá nhân. Tạo động lực kích thích lao động làm việc có tác dụng :

  • Tạo sự gắn kêt giữa lao động với tổ chức giữ được nhân viên giỏi, dảm được tỉ lệ nghỉ việc.
  • Tăng mức độ hài lòng, niềm tin, sự gắn bó và tận tụy của các nhân viên trong doanh nghiệp.
  • Dảm thời gian, chi phí tuyển và đào tạo nhân viên mới.
  • Tăng năng suất lao động, hiệu quả sử dụng lao động.
  • Là nền tảng để tăng doanh số, cải thiện lợi nhuận.

Các bài nên biết thêm:
Lý tưởng sống
Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Khái niệm đầu tư

Hệ quản trị cơ sở dữ liệu – Database Management system – DBMS là gì

1. Tìm hiểu hệ quản trị cơ sở dữ liệu – DBMS là gì

Một cơ sở dữ liệu – CSDL(DataBase): Là một kho dữ liệu được tổ chức theo một nguyên tắc nào đó. Đó là một tập hợp các tập tin có liên quan với nhau, được thiết kế nhằm làm giảm thiểu sự dư thừa dữ liệu, đảm bảo tính tin cậy khi truy xuất dữ liệu. Các tập tin này chứa các thông tin biểu diễn các đối tượng trong một ứng dụng thế giới thực.
Ví dụ: Cơ sở dữ liệu lưu giữ thông tin của một trường đại học như : khoa, giảng viên, sinh viên, khóa học,…
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (tiếng Anh: Database Management System DBMS), là phần mềm hay hệ thống được thiết kế để quản trị một cơ sở dữ liệu. Cụ thể, các chương trình thuộc loại này hỗ trợ khả năng lưu trữ, sửa chữa, xóa và tìm kiếm thông tin trong một cơ sở dữ liệu (CSDL). Có rất nhiều loại hệ quản trị CSDL khác nhau: từ phần mềm nhỏ chạy trên máy tính cá nhân cho đến những hệ quản trị phức tạp chạy trên một hoặc nhiều siêu máy tính.
Ví dụ: Một DBMS có thể quản trị cơ sở dữ liệu của một trường đại học cũng như những cơ sở dữ liệu có ý nghĩa khác như : cơ sở dữ liệu phục vụ tổng thu nhập quốc gia, một cơ sở dữ liệu liên hợp quốc về dữ liệu địa lý thế giới,v..v…
– Một hệ cơ sở dữ liệu (HCSDL/ DBS: DataBase System) là một phần mềm cho phép xây dựng một HQTCSDL.
Các DBMS thông dụng: Visual FoxPro, Microsoft Access, SQL Server, DB2, Oracle … hầu hết các DBMS hiện nay đều dựa trên mô hình quan hệ

2. Các chức năng của hệ quản trị cơ sở dữ liệu – DBMS:

+ Lưu trữ dữ liệu
+ Tạo ra và duy trì CSDL
+ Cho phép nhiều người dùngtruy xuất đồng thời
+ Hỗ trợ tính bảo mật và riêng tư
+ Cho phép xem và xử lý dữ liệu lưu trữ
+ Cho phép cập nhật và lưu trữ dữ liệu sau khi cập nhật
+ Cung cấp một cơ chế chỉ mục (index) hiệu quả để truy cập nhanh các dữ liệu lựa chọn
+ Cung cấp tính nhất quán giữa các bản ghi khác nhau
+ Bảo vệ dữ liệu khỏi mất mát bằng các quá trình sao lưu (backup) và phục hồi (recovery).

3. Ưu điểm và nhược điểm của DBMS:

– Ưu điểm của DBMS:
Quản lý được dữ liệu dư thừa.
Đảm báo tính nhất quán cho dữ liệu.
Tạo khả năng chia sẻ dữ liệu nhiều hơn.
Cải tiến tính toàn vẹn cho dữ liệu.
– Nhược điểm Hệ quản trị cơ sở dữ liệu:
HQTCSDL tốt thì khá phức tạp.
HQTCSDL tốt thường rất lớn chiếm nhiều dung lượng bộ nhớ.
Giá cả khác nhau tùy theo môi trường và chức năng.
HQTCSDL được viết tổng quát cho nhiều người dùng thì thường chậm.

4. Một số  vấn đề bất lợi cần xử lý của hệ cơ sở dữ liệu – DBMS là gì

  • Dư thừa dữ liệu và tính không nhất quán (Data redundancy and inconsistency) :

Do các file và các trình ứng dụng được tạo ra bởi các người lập trình khác nhau, nên các file có định dạng khác nhau, các chương trình được viết trong các ngôn ngữ lập trình khác nhau, cùng một thông tin có thể được lưu giữ trong các file khác nhau. Tính không thống nhất và dư thừa này sẽ làm tăng chi phí truy xuất và lưu trữ, hơn nũa, nó sẽ dẫn đến tính không nhất quán của dữ liệu: các bản sao của cùng một dữ liệu có thể không nhất quán .

  • Khó khăn trong việc truy xuất dữ liệu:

Môi trường của hệ thống xử lý file thông thường không cung cấp các công cụ cho phép truy xuất thông tin một cách hiệu quả và thuận lợi.

  • Sự cô lập dữ liệu(Data isolation) :

Các giá trị dữ liệu được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu phải thoả mãn một số các ràng buộc về tính nhất quán của dữ liệu ( ràng buộc nhất quán / consistency contraints ).
Trong hệ thống xử lý file thông thường, rất khó khăn trong việc thay đổi các chương trình để thoả mãn các yêu cầu thay đổi ràng buộc. Vấn đề trở nên khó khăn hơn khi các ràng buộc liên quan đến các hạng mục dữ liệu nằm trong các file khác nhau.

  • Các vấn đề về tính nguyên tử (Atomicity problems):

Tính nguyên tử của một hoạt động (giao dịch) là: hoặc nó được hoàn tất trọn vẹn hoặc không có gì cả . Điều này có nghĩa là một hoạt động (giao dịch) chỉ làm thay đổi các dữ liệu bền vững khi nó đã hoàn tất (kết thúc thành công) nếu không, giao dịch không để lại một dấu vết nào trên CSDL. Trong hệ thống xử lý file thông thường khó đảm bảo được tính chất này.

  • Tính bất thường trong truy xuất cạnh tranh :

Một hệ thống cho phép nhiều người sử dụng cập nhật dữ liệu đồng thời, có thể dẫn đến kết quả là dữ liệu không nhất quán. Điều này đòi hỏi một sự giám sát. Hệ thống xử lý file thông thường không cung cấp chức năng này.

  • Vấn đề an toàn (Security problems):

một người sử dụng hệ cơ sở dữ liệu không cần thiết và cũng không có quyền truy xuất tất cả các dữ liệu. Vấn đề này đòi hỏi hệ thống phải đảm bảo được tính phân quyền, chống truy xuất trái phép … Các bất lợi nêu trên đã gợi mở sự phát triển các DBMS. Phần sau của giáo trình sẽ đề cập đến các quan niệm và các thuật toán được sử dụng để phát triển một hệ cơ sở dữ liệu nhằm giải quyết các vấn đề nêu trên.
Các bài việt có thể xem thêm:
Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ

Adobe dreamweaver là gì

1. Khái niệm về Adobe Dreamweaver là gì
Adobe Dreamweaver là một công cụ xử lý mạnh mẽ dành cho những người thiết kế web, người dùng có thể tự mình lập trình và phát triển ứng dụng web ở nhiều cấp độ. Nếu chỉ dừng ở mức độ hiểu biết chưa nhiều về các ngôn ngữ lập trình web thì Dreamweaver vẫn đáp ứng được nhu cầu thiết kế Website chuyên nghiệp.
Người dùng không chuyên chỉ việc cần tìm cho mình một mẫu trang web vừa ý trên Internet, dùng công cụ soạn thảo thông thường để chỉnh sửa hay thêm bớt một số thành phần, rồi tạo ra một Template để áp dụng cho toàn bộ Website.
Ngoài những tính năng kéo thả để xây dựng trang web, Dreamweaver còn cung cấp một môi trường viết mã với đầy đủ chức năng bao gồm các công cụ viết mã (như tô màu mã, bổ sung thẻ tag, thanh công cụ mã), hỗ trợ các ngôn ngữ lập trình thông dụng HTML, CSS, Javascript, ASP VBScript, PHP hay XML. Nếu muốn xây dựng các ứng dụng web động chạy trên công nghệ máy chủ ASP.NET, ASP, JSPPHP thì Dreamweaver hoàn toàn có thể đáp ứng được các dự án lớn này.
Giao diện sử dụng được bố trí trực quan và thân thiện với người sử dụng, khu vực soạn thảo đoạn mã được đánh số thứ tự ở các dòng và có tô màu theo từng thẻ giúp tiện cho việc theo dõi, kiểm tra. Ngoài giao diện mặc định, chương trình còn hỗ trợ nhiều dạng giao diện với cách bố trí ví trí thanh công cụ khác nhau, tại tính năng Designer (đối với phiên bản Dreamweaver CS5).
Adobe Dreamweaver có thể kết hợp các phần mềm khác của hãng Adobe để tạo ra một sản phẩm hoàn hảo, ví dụ như Adobe Photoshop giúp chỉnh sửa và thiết kế hình ảnh cho Website.

2. Hướng dẫn cài đặt dreamweaver nhanh nhất.

Dưới đây là các bước cài đặt phần mềm Dreamweaver chi tiết nhất.
Bước 1: Tải file cài đặt dreamweaver về máy tính của mình tại đây
Bước 2: Đến thư mục vừa tải file cài đặt > ấn chuột phải và chọn Run as administrator.
Lúc này sẽ có một cửa sổ hiện ra thực hiện quá trình cài đặt.

Bước cài đặt sẽ mất một chút thời gian. Tốc độ nhanh hay chậm tùy thuộc vào mạng và cấu hình máy tính của bạn.

Bước 3: Chọn Accept để sang bước tiếp theo.
Bước 4: Tại đây hiển thị cho bạn 2 trường cho bạn lựa chọn.

  • Nếu bạn muốn sử dụng dreamweaver bản quyền thì bạn click vào ô Provide a serial number. Và nhập KEY vào các ô tương ứng
  • Nếu chưa có KEY bạn có thể chọn “Install this product a trial.” để dùng thử 30 ngày của phần mềm.

Dù bạn chọn phương pháp nào thì bạn cũng phải chọn ngôn ngữ cho nó, ở đây không có ngôn ngữ tiếng Việt thì bạn có thể sử dụng ngôn ngữ Tiếng Anh (English) cho dễ sử dụng. Rồi bấm next để tiếp tục.
 

Bước 5: Tiếp theo bạn sẽ thấy một bảng hiển thị mới.
Ở cột bên trái bạn chọn Options > bạn sẽ thấy các chương trình bổ sung cho dreamweaver, nếu không muốn cài đặt thêm mấy  chương trình này bạn có thể bỏ chọn tick đi.
Ở ô Location bên dưới bạn sẽ chọn nơi chứa phần cài đặt của dreamweaver phù hợp nhất. Ở đây mặc định nó sẽ cài đặt vào ổ C. Xong bạn ấn Install để thực hiện cài đặt.

Bước 6: Đợi quá trình cài đặt hoàn tất.

Bước 7: Sau khi hoàn thành quá trình cài đặt, hiện ra thông báo như thế này bạn bấm “Done“

Vậy là quá trình cài đặt đã hoàn tất, thật đơn giản đúng không các bạn !!
2. Các bước tạo website cơ bản với Adobe Dreamweaver CS6

Một website tạo bởi Dreamweaver CS6 thông thường sẽ có hai thành phần chính là: Local folder(nơi lưu trữ các file trên máy tính, cũng là nơi bạn trực tiếp thực hiện các thao tác thiết kế), và Remote folder (nơi lưu trữ các file trên máy chủ để có thể xuất bản ra công chúng). Sau khi thiết kế, bạn thực hiện thao tác upload để đồng bộ hóa nội dung giữa Local folder và Remote folder.

Để tạo một website mới, từ giao diện chính, bạn vào menu Site >chọn New Site. Trong hộp thoại hiện ra, bạn điền tên website vào ô Site Name, chọn đường dẫn đến thư mục Local folder trong mục Local Site Folder, nhấn Save để hoàn tất.

Sau khi có được website, bạn cần tạo các trang web chứa nội dung và lưu vào trong site vừa tạo. Từ giao diện chính, bạn chọn File > New, hộp thoại New Document sẽ xuất hiện. Tiếp đó, bạn chọn một trong các loại trang web khác nhau tùy theo ngôn ngữ lập trình sử dụng như: HTML, ASP, PHP… và nhấn Create để tạo.
Lúc này, trang web vừa tạo sẽ xuất hiện trong panel Files ở góc phải phía dưới màn hình. Đây là nơi bạn quản lý các trang web cùng các nguồn tài nguyên khác như hình ảnh, media của website. Đồng thời, bạn cũng sẽ được chuyển qua giao diện thiết kế trang web. Có ba chế độ thiết kế cơ bản là Code – sử dụng mã nguồn, Design – thiết kế trên giao diện đồ họa, Split – chia đôi màn hình cho mã nguồn và thiết kế.
Sau khi hoàn tất việc thiết kế, công việc tiếp theo của bạn là upload các file lên web server. Vào menu Site > chọn Manage Sites, nhấn đúp chuột vào tên website trong danh sách, hộp thoại Site Setup sẽ xuất hiện. Tại thẻ Servers, bạn nhấn biểu tượng dấu cộng để thêm một server mới, điền tên server vào mục Server Name, chọn phương thức kết nối trong mục Connect using, thông thường là FTP. Tiếp đó, bạn điền các thông tin như địa chỉ server (Address) tên đăng nhập (Username), mật khẩu (Password), thư mục gốc (Root Directory), địa chỉ trang web (Web URL)
Chuyển sang thẻ Advanced, bạn có thể đánh dấu chọn mục Automatically upload files to server để chương trình tự động upload mỗi khi bạn lưu lại các thay đổi. Thiết lập xong, bạn nhấn Save hai lần để hoàn tất. Từ lúc này, mỗi khi bạn muốn upload các file lên server, bạn chỉ việc nhấnbiểu tượng mũi tên hướng lên trong panel FILES phía dưới.

Khái niệm du lịch sinh thái và nhiệm vụ của các loại hình sinh thái

1. Khái niệm du lịch sinh thái là gì

Du lịch sinh thái là là du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiện không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế các hoạt động tiêu cực do các khách quan gây ra và tạo ra lợi ích cho những người dân địa phương  tham gia tích cực. theo ( Cebalos- Lascurain , 1996)
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với môi trường ở các khu thiên nhiên còn tương đối hoang sơ với mục đích thưởng ngoạn thiên nhiên và cá giá trị văn hóa kèm theo của quá khứ và hiện tại, thúc đẩy công tác bảo tồn, có ít tác động tiêu cưc đến môi trường và tạo các ảnh hưởng tích cực về mặt kinh tế- xã hội cho cộng đồng địa phương

2. Các loại hình du lịch sinh thái

Cho đến nay vẫn chưa có sự xác định hoàn hảo về loại hình du lịch sinh thái. Loại hình du lịch này quả vẫn còn mới mẻ, mặc dù những năm 1997-1998 Tổ chức Du lịch thế giới và Liên Hợp Quốc đã nêu một số quan điểm chuyển mạnh sang loại hình du lịch sinh thái phù hợp với điều kiện của sự phát triển du lịch
Một số nhà khoa học về du lịch cũng kết luận có các loại hình du lịch sinh thái như sau:

  • Du lịch xanh, du lịch dã ngoại.
  • Du lịch nhạy cảm, du thuyền trên sông, hồ, trên biển…
  • Du lịch thiên nhiên, tham quan miệt vườn, làng bản…
  • Du lịch môi trường.
  • Du lịch thám hiểm, mạo hiểm,lặn biển, thăm hang động…

3. Nhiệm vụ của các loại hình sinh thái

– Bảo tồn tài nguyên của môi trường tự nhiên.
– Bảo đảm đối với du khách về các đặc điểm của môi trường tự nhiên mà họ đang chiêm ngưỡng.
– Thu hút tích cực sự tham gia của cộng đồng địa phương, người dân bản địa trong việc quản lý và bảo vệ, phát triển du lịch đang triển khai thực hiện trong điểm du lịch, khu du lịch v.v…
– Qua các yêu cầu nhiệm vụ đề ra nói trên, loại hình du lịch sinh thái vừa đảm bảo sự hài lòng đối với du khách ở mức độ cao để tạo lập sự hấp dẫn đối với họ, đồng thời qua du khách quảng bá uy tín của điểm du lịch, khu du lịch. Từ đó ngành du lịch có điều kiện bảo đảm và nâng cao hiệu quả của hoạt động du lịch và cũng là cơ hội tăng thu nhập cho người dân thông qua hoạt động du lịch, cũng tức là có điều kiện thuận lợi về xã hội hoá thu nhập từ du lịch.

4. Đặc điểm và nhân tố ảnh hưởng khách du lịch sinh thái ở Huế

Để làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững ở vùng du lịch Bắc Trung Bộ (VDLBTB), năm 2010 chúng tôi đã tiến hành điều tra chọn mẫu không lặp khảo sát tại một số điểm du lịch sinh thái gồm: các tài nguyên tập trung tại TP. Huế và khu vực Cảnh Dương – Bạch Mã – Lăng Cô với số mẫu là 293, trong đó có 108 mẫu khách quốc tế.
Trong số khách du lịch sinh thái được hỏi, phần lớn đều là khách đi du lịch thuần túy và kết hợp du lịch sinh thái (64,6%); nghỉ dưỡng (14,8%); du lịch thăm thân kết hợp du lịch sinh thái (9,7%), còn lại là khách đi với mục đích khác. Cơ cấu khách quốc tế theo quốc tịch: đông nhất là khách Pháp (24,8%); tiếp đến là khách Nhật  Bản (19,6%); Hàn Quốc (11,8%); Australia (10,3%), còn lại là các nước khác. Loại hình chủ yếu mà khách tham gia đó là: nghỉ dưỡng, tắm biển, tham quan nhà vườn.
 
Qua khảo sát tài nguyên và dựa trên số liệu sơ cấp, thứ cấp thu thập được, chúng tôi đã xây dựng một số loại hình du lịch sinh thái ngoài các loại hình du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, chủ yếu là các loại hình du lịch sinh thái không tiêu dùng tài nguyên: tour xe đạp (đường núi, vùng nông thôn); lặn biển; khám phá động thực vật (vườn quốc gia Bạch Mã, phá Tam Giang, biển…); xem chim; du lịch nhà vườn; du lịch sinh thái làng nghề; đi bộ sinh thái…
 
Ngoài ra, theo điều tra, có đến hơn 90% khách trả lời muốn tham gia vào việc bảo tồn môi trường; 82% số khách muốn được tham gia và tìm hiểu sinh hoạt của cộng đồng địa phương. Hơn 67% số khách trả lời chưa và ít được tiếp cận với sinh hoạt của cộng đồng địa phương, chưa kể có một số khách không có ý kiến. Đặc biệt, trong phần câu hỏi: «khách đã biết đầy đủ thông tin về điểm tài nguyên trước khi đến Việt Nam hay chưa?», có đến 78% khách quốc tế trả lời hầu như chưa biết hoặc biết rất ít. Nhiều khách quốc tế trả lời là chủ yếu được các công ty lữ hành giới thiệu qua và đặt chỗ khi đến Việt Nam… Mặc dù số liệu trên chưa phải là toàn diện nhưng cũng cho chúng ta thấy một khía cạnh nhất định trong việc thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái bền vững trên địa bàn Thừa Thiên – Huế.
Các bài có thể xem thêm:
Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Khái niệm quản lý
Khái niệm đầu tư

Lý tưởng sống – Ngọn hải đăng dẫn bạn đến thành công

Lý tưởng sống là gì?

“Khi còn khoẻ mạnh, tôi cũng đã từng suy nghĩ điều gì là quan trọng nhất trong cuộc đời? Sau khi biết mình mắc bệnh, tôi đã đi đến kết luận điều quan trọng nhất chính là triết lý sống của một con người” – Eugene O’Kelly – Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Công ty Kiểm toán Quốc tế KPMG, Hoa Kỳ…
“Bạn sẽ không làm được gì nếu bạn không có mục đích, bạn cũng không làm được gì vĩ đại nếu mục đích của bạn tầm thường” (Điđơro)
Triết lý sống hay mục đích sống cũng chính là lý tưởng sống của mỗi con người. Để nói về lý tưởng của thanh niên thời nay, Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng căn dặn các tài năng trẻ rằng: “Tài năng trẻ muốn thành công không chỉ cần học giỏi mà còn cần có lý tưởng, hoài bão, có lòng yêu nước, sống nhân ái, thương người như thể thương thân…”

Lý tưởng sống – Con đường dẫn bạn đến thành công

Là con người, ai chẳng mong mình thành đạt, gia đình hạnh phúc, cuộc sống sung túc… Những ước mơ chân chính đó luôn là động lực thúc đẩy bao người cố gắng để đạt được. Nhưng là thế nào để đạt được chúng?
Nếu có một bà tiên cho các bạn những điều ước thì có lẽ các bạn cũng như tôi, luôn thích một cuộc sống an bình, vui vẻ, không phải ưu tư, buồn khổ, giận hờn oán trách, sống trong sự sung túc của cải… hơn là những sóng gió, rủi ro và nghèo đói. Nhưng liệu rằng cứ muốn như vậy là đạt được không? Ai cũng MUỐN có những điều tốt đẹp đó nhưng số người ĐẠT ĐƯỢC thì không phải là nhiều.
Để đạt được niềm khát vọng đó, người ta luôn tìm cho mình một lẽ sống cho cuộc đời, hay nói đúng hơn là một lý tưởng. Lý tưởng này sẽ hướng dẫn đời họ vượt qua mọi chông gai và can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh. Vì có một lý tưởng để theo đuổi, có một lẽ sống cho cuộc đời, bạn sẽ như con thuyền lênh đênh trên biển nhưng luôn có một ngọn hải đăng sáng chói soi đường và chỉ lối bạn đi về đâu. Và phải chăng những người không có lý tưởng sống, sống cuộc sống không có một mục đích nào để theo đuổi cũng như miếng dẻ trôi trên dòng sông vô định?
“Bạn sẽ không làm được gì nếu bạn không có mục đích, bạn cũng không làm được gì vĩ đại nếu mục đích của bạn tầm thường” (Điđơro)

Bạn có bao giờ tự hỏi vì sao mình tồn tại, mình tồn tại để là gì không?

Một câu hỏi tưởng chừng là đơn giản nhưng nó làm cho chúng ta phải trầm tư mà suy ngẫm về chính bản thân mình. Cũng giống như một tổ chức, một doanh nghiệp, khi thành lập, họ luôn phát biểu tôn chỉ, mục đích – hay nói cách khác là sứ mạng của mình. Sứ mạng của hang giày dép Bitis được thể hiện ngay trong câu slogan “Nâng niu bàn chân Việt”, của mạng di động EVN là “Kết nối sức mạnh”… Vậy, bạn xác định sứ mạng cuộc đời mình là gì?
Đây là băn khoăn của không ít những bạn trẻ thời nay. Nhiều người cho rằng cuộc sống bận rộn như vậy thì làm gì có thì giờ để đặt vấn đề niềm tin hay lý tưởng sống. Cũng có bạn cho rằng cứ sống tự nhiên, đến đâu hay đó, làm gì phải bận tâm đến niềm tin hay lý tưởng sống. Những người nói như vậy thật ra là cũng đã có niềm tin hay lý tưởng sống cho chính mình. Niềm tin hay lý tưởng đó là sống đến đâu hay đó, không cần suy nghĩ hay đặt vấn đề.

Lý tưởng sống từ những việc gần gũi

Có không ít người còn nhớ nội dung truyện ngắn “Phấn thông vàng” của Xuân Diệu. Câu chuyện kể rằng có một chàng họa sĩ rất buồn rầu vì thất bại trong tình yêu đang đi lang thang trong rừng thông. Lòng chàng bi ai. Cuộc sống như đang trôi đi những ngày vô vị. Bỗng chàng thấy phấn thông vàng bay khắp nơi. Chàng liên tưởng đến chuyện trong vườn ngô vàng bỗng nhiên có những bắp ngô trắng xen vào, và giải thích đó là do vườn ngô trắng ở phương xa nào đó hào phóng gửi tặng những bụi phấn hoa đến vườn ngô vàng này. Những bụi phấn thông vàng cũng vậy, hào phóng cho đi rất nhiều cái tinh túy của mình dẫu biết rằng chỉ có rất ít được tạo quả, thành cây. Hiểu được điều đó, lòng chàng họa sĩ bỗng vui trở lại. Chàng nghĩ rằng chàng sống là để cống hiến, để cho đi những cái hay cái đẹp của mình – cho dù không phải ai cũng sẵn sàng đáp lại.
Cuộc sống cần phải có lý tưởng dẫn đường! Bạn có thể ra đi từ nhiều nơi, đi theo những lối khác nhau, nhưng cuối cùng mỗi người phải lựa chọn cho mình một cái đích để hướng đến. Ta sống cho ta, cho những người thân, bạn bè và cho mọi người vì ta yêu chính ta, mọi người yêu ta và ta cũng yêu mọi người. Lý tưởng dẫn dắt sự nghiệp, tăng thêm sức mạnh cho mọi người để đạt đến thành công trong sự nghiệp. Lý tưởng tiếp thêm sức mạnh cho ta mỗi khi ta yếu lòng để có thể vượt qua khó khăn và thử thách trên con đường đi đến đích cuối của cuộc đời.

Cuối cùng xin kết luận về lý tưởngng sống:

Phải sống có lý tưởng! Bạn có thể ra đi từ nhiều phía, theo những con đường khác nhau, nhưng cuối cùng mỗi người phải lựa chọn cho mình mục đích của cuộc sống. Ta sống cho ta, cho những người thân, bạn bè và cho mọi người. Vì vậy, chỉ có hạnh phúc khi “mình vì mọi người và mọi người phấn đấu vì hạnh phúc của từng người”. Rõ ràng lý tưởng là mục đích sống, là ý nghĩa của mỗi cuộc đời. Lý tưởng quyết định sự thành công trong cuộc sống. Lý tưởng dẫn dắt sự nghiệp, tăng thêm sức mạnh cho mọi người để đạt đến thành công trong sự nghiệp. Lý tưởng cho ta sức mạnh vượt qua khó khăn và thử thách trong cuộc sống.
Các bài có thể xem thêm:
Khái niệm quản lý
Khái niệm quản lý nhà nước
Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ

Khái niệm Pic là gì

1. Khái niệm Pic là gì

PIC là một họ vi điều khiển RISC được sản xuất bởi công ty Microchip Technology. Dòng PIC đầu tiên là PIC1650 được phát triển bởi Microelectronics Division thuộc General Instrument.
PIC bắt nguồn là chữ viết tắt của “Programmable Intelligent Computer” (Máy tính khả trình thông minh) là một sản phẩm của hãng General Instrument đặt cho dòng sản phẩm đầu tiên của họ là PIC1650. Lúc này, PIC1650 được dùng để giao tiếp với các thiết bị ngoại vi cho máy chủ 16bit CP1600, vì vậy, người ta cũng gọi PIC với cái tên “Peripheral Interface Controller” (Bộ điều khiển giao tiếp ngoại vi). CP1600 là một CPU tốt, nhưng lại kém về các hoạt động xuất nhập, và vì vậy PIC 8-bit được phát triển vào khoảng năm 1975 để hỗ trợ hoạt động xuất nhập cho CP1600. PIC sử dụng microcode đơn giản đặt trong ROM, và mặc dù, cụm từ RISC chưa được sử dụng thời bây giờ, nhưng PIC thực sự là một vi điều khiển với kiến trúc RISC, chạy một lệnh một chu kỳ máy (4 chu kỳ của bộ dao động).
Năm 1985 General Instrument bán bộ phận vi điện tử của họ, và chủ sở hữu mới hủy bỏ hầu hết các dự án – lúc đó đã quá lỗi thời. Tuy nhiên PIC được bổ sung EEPROM để tạo thành 1 bộ điều khiển vào ra khả trình. Ngày nay rất nhiều dòng PIC được xuất xưởng với hàng loạt các module ngoại vi tích hợp sẵn (như USART, PWM, ADC…), với bộ nhớ chương trình từ 512 Word đến 32K Word.

2. Các dòng pic và cách lựa chọn vi điều khiển pic:

   a. Các ký hiệu trên vi điều khiển pic:

  • PIC12xxxx: độ dài lệnh 12 bit
  • PIC16xxxx: độ dài lệnh 14 bit
  • PIC18xxxx:  độ dài lệnh 16 bit

C:   PIC có bộ nhớ EPROM (chỉ có  16C84 là EEPROM)
F:    PIC có bộ nhớ  flash
LF: PIC có bộ nhớ  flash hoạt động ở điện áp thấp           
LV:  tương tụ như  LF, đây là ký hiệu cũ
Bên cạnh đó một số vi điều khiển có kí hiệu xXxxx là EEPROM, nếu có thêm chữ A ở cuối là flashh (ví dụ  PIC16F877 là EEPROM, còn PIC16F877A là flash)
Ngoài ra còn có thêm một dòng vi điều khiển PIC mới là dsPIC. Ở Việt Nam phổ biến nhất là các họ vi điều khiển PIC do hãng Microchip sản xuất.
  b. Cách lựa chọn một vi điều khiển PIC phù hợp:
–  Cần để ý đến số chân của vi điều khiển cần thiết cho ứng dụng. Có nhiều vi điều khiển PIC với số lượng chân khác nhau, thậm chí có vi điều khiển PIC chỉ có 8 chân, ngoài ra còn có các vi điều khiển 28, 40, 44…. chân.
–  Cần chọn vi điều khiển PIC có bộ nhớ flash để có thể nạp xóa chương trình được nhiều lần hơn
–  Cần chú ý đến khối lượng chức năng được tích hợp sẵn trong vi điều khiển, các chuẩn giao tiếp bên trong.
– Cuối cùng là cần chú ý đến bộ nhớ chương trình mà vi điều khiển cho phép.

3. Một vài đặc tính của Pic:

– Hiện nay có khá nhiều dòng PIC và có rất nhiều khác biệt về phần cứng, nhưng chúng ta có thể điểm qua một vài nét như sau:
 + 8/16 bit CPU, xây dựng theo kiến trúc Harvard có sửa đổi
 + FLASH và ROM có thể tuỳ chọn từ 256 byte đến 256 Kbyte
 + Các cổng Xuất/Nhập (I/O ports) (mức logic thường từ 0V đến 5.5V, ứng với logic 0 và logic 1)
 + 8/16 Bit Timer
 + Công nghệ Nanowatt
 + Các chuẩn Giao Tiếp Ngoại Vi Nối tiếp Đồng bộ/Không đồng bộ USART, AUSART, EUSARTs
 + Bộ chuyển đổi ADC Analog-to-digital converters, 10/12 bit
 + Bộ so sánh điện áp (Voltage Comparators)
 + Các module Capture/Compare/PWM
 + LCD
 + MSSP Peripheral dùng cho các giao tiếp I²C, SPI, và I²S
 + Bộ nhớ nội EEPROM – có thể ghi/xoá lên tới 1 triệu lần
 + FLASH (dùng cho bộ nhớ chương trình) có thể ghi/xóa 10.000 lần (tiêu biểu) [1]
 + Module Điều khiển động cơ, đọc encoder
 + Hỗ trợ giao tiếp USB
 + Hỗ trợ điều khiển Ethernet
 + Hỗ trợ giao tiếp CAN
 + Hỗ trợ giao tiếp LIN
 + Hỗ trợ giao tiếp IrDA
 + Một số dòng có tích hợp bộ RF (PIC16F639, và rfPIC)
 + KEELOQ Mã hoá và giải mã
 + DSP những tính năng xử lý tín hiệu số (dsPIC)
Các bài có thể xem thêm:
Khái niệm đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài 
Bản chất của FDI

Khái niệm thị trường mục tiêu là gì

1. Khái niệm thị trường mục tiêu là gì:

Một thị trường mục tiêu là một nhóm người tiêu dùng mà doanh nghiệp hướng các nỗ lực tiếp thị và nguồn hàng hóa đến.Một thị trường mục tiêu rõ ràng là yếu tố quyết định trong chiến lược tiếp thị.Sản phẩm (product), giá cả (price), chiêu thị (promotion) và phân phối (place) là bốn yếu tố quan trọng trong chiến lược tiếp thị (marketing) hỗn hợp – quyết định sự thành công của một sản phẩm hoặc dịch vụ trên thị trường.

2. Các thị trường mục tiêu

Các thị trường mục tiêu là các nhóm người được chia ra bởi các phân khúc thị trường phân biệt và có thể nhìn thấy rõ như:

  • Địa lý – địa chỉ (địa điểm, đất nước, khí hậu của thị trường mục tiêu).
  • Sự phân khúc về kinh tế xã hội và nhân khẩu học (giới tính, tuổi tác, thu nhập, nghề nghiệp, giáo dục, quy mô hộ gia đình, vị trí trong vòng đời của gia đình).
  • Sự phân khúc về tâm lý tiêu dùng (thái độ giống nhau, giá trị và lối sống).
  • Sự phân khúc về hành vi tiêu dùng (dịp mua, mức độ trung thành, lợi ích khi mua hàng, mức sử dụng).
  • Sự phân khúc liên quan đến sản phẩm (mối quan hệ đối với một sản phẩm).

3. Các  bước đơn giản để xác định thị trường mục tiêu (target market):

– Bước thứ nhất: Sản phẩm của bạn giúp gì cho khách hàng?
– Bước thứ hai: Hãy hình dung về khách hàng của bạn
– Bước thứ ba: Thu hẹp đối tượng
– Bước thứ 4: Quan sát thị trường
– Bước thứ 5: Phân tích các nguồn lực của công ty
– Bước cuối cùng: Kiểm tra xem bạn còn khúc mắc gì nữa không

4. Đo lường và dự báo nhu cầu của thị trường muc tiêu

Các nhà quản trị của công ty thường nói đến dự báo, ước tính, dự đoán, chỉ tiêu tiêu thụ và hạn mức. Trong số này có nhiều thuật ngữ không cần thiết. Những khái niệm chủ yếu trong việc đo lường nhu cầu là nhu cầu của thị trường và nhu cầu công ty. Trong phạm vi từng khái niệm, ta phân biệt giữa hàm nhu cầu, dự báo và tiềm năng.
Nhu cầu của thị trường
Khi đánh giá các cơ hội Marketing bước đầu tiên là ước tính tổng nhu cầu của thị trường. Tuy nhiên đó không phải là một khái niệm đơn giản và ta sẽ thấy rõ qua định nghĩa sau:
+ Nhu cầu của thị trường đối với một sản phẩm là tổng khối lượng sản phẩm mà nhóm khách hàng nhất định sẽ mua tại một địa bàn nhất định và trong một thời kỳ nhất định với một môi trường Marketing nhất định và chương trình Marketing nhất định.
Dự báo thị trường
Chỉ có một mức chi phí Marketing ngành trên thực tế. Nhu cầu của thị trường tương ứng với mức đó gọi là dự báo thị trường.
Tiềm năng của thị trường
Dự báo thị trường thể hiện nhu cầu dự kiến của thị trường, chứ không phải nhu cầu cực đại của thị trường. Sau này ta sẽ phải hình dung được mức nhu cầu của thị trường đối với mức chi phí Marketing ngành rất “cao”, khi mà việc tiếp tục tăng cường hơn nữa nỗ lực Marketing sẽ có tác dụng kích thích nhỏ đối với nhu cầu. Tiềm năng của thị trường là giới hạn tiệm cận của nhu cầu của thị trường khi chi phí Marketing ngành tiến đến vô hạn, trong một môi trường nhất định.
Nhu cầu công ty
Bây giờ ta đã sẵn sàng để định nghĩa nhu cầu công ty. Nhu cầu công ty là phần nhu cầu của thị trường thuộc về công ty.
Qi = SiQ (7-1)
Trong đó: Qi = nhu cầu của công ty i Si = thị phần của công ty i Q = tổng nhu cầu của thị trường
Phần nhu cầu của thị trường thuộc về công ty phụ thuộc vào chỗ các sản phẩm, dịch vụ giá cả, thông tin của công ty được nhận thức như thế nào so với các đối thủ cạnh tranh. Nếu tất cả những yếu tố khác đều như nhau thì thị phần của công ty sẽ phụ thuộc vào quy mô và hiệu quả của các chi phí Marketing của công ty so với các đối thủ cạnh tranh. Những người xây dựng mô hình Marketing đã phát triển và đo lường hàm mức tiêu thụ đáp ứng để thể hiện mức tiêu thụ của công ty chịu tác động như thế nào của mức chi phí Marketing, Marketing-mix và hiệu quả của Marketing. Dự báo của công ty Nhu cầu công ty mô tả mức tiêu thụ dự kiến của mình ứng với các khác nhau của nỗ lực Marketing. Ban lãnh đạo chỉ còn phải lựa chọn một trong những mức đó. Mức nỗ lực Marketing được chọn sẽ tạo ra mức tiêu thụ dự kiến, gọi là dự báo mức tiêu thụ của công ty.
Các bài viết có thể xem thêm:
Hiệu quả sử dụng vốn là gì
Xếp hạng tín nhiệm là gì
Đối tượng của xếp hạng tín nhiệm

Khái niệm quản lý nhà nước

Tìm hiểu khái niệm quản lý nhà nước

Khái niệm quản lý nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của nhà nước.
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước là hoạt động của cả ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp. Quản lý nhà nước có các đặc điểm sau đây:
– Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, công chức trong bộ máy nhà nước được trao quyền lực công gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.
– Đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
– Quản lý nhà nước có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao…

Khái niệm quản lý nhà nước
Khái niệm quản lý nhà nước

Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững trong xã hội.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình, chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ… Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước với các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang quyền lực nhà nước.
Quyền lực nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý hành chính nhà nước. Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý hành chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật; dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động, nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập với cấp dưới nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính nhà nước.
Thứ hai, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp.
Cách hiểu phổ biến hiện nay thì nhà nước có ba quyền năng: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, quyền năng hành pháp trước hết và chủ yếu thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước, tuy nhiên trong rất nhiều hoạt động khác như: việc ổn định tổ chức nội bộ của các cơ quan nhà nước, hoạt động quản lý được tiến hành bởi các bộ…Trong những trường hợp này quyền năng hành pháp cũng thể hiện rõ nét và nếu xét về bản chất thì tương đồng với hoạt động hành pháp của các cơ quan hành chính nhà nước.
Thứ ba, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ
Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ quan hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương tới địa phương, đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau. Tuy nhiên, do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế – xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy hành chính còn được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương.
Thứ tư, hoạt động quản lý hành chính nhà nước mang tính chấp hành và điều hành.
Tính chấp hành và điều hành của hoạt động QLNN thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…, trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật.
QLNN là một dạng đặc biệt của quản lý, được sử dụng các quyền lực nhà nước như lập pháp hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, QLNN mang tính quyền lực đặc biệt là tính tổ chức cao, và có mục tiêu chiến lược, chương trình kế hoạch để thực hiện mục tiêu, hơn cả là QLNN ở Việt Nam mang nguyên tắc tập trung dân chủ. QLNN không có sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý và nó luôn đảm bảo tính liên tục, ổn định trong tổ chức.
Xem thêm: 

KHÁI NIỆM QUẢN LÝ

Khái niệm quản lý

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ý nghĩa:
– “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định;
– “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định.
Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ  thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển”. Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững. Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng. Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau.

Khái niệm quản lý
Khái niệm quản lý

Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm quản lý:
– Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng nói rằng: “Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo”. Tiếng Việt cũng có từ “quản lý” và “lãnh đạo” riêng rẽ giống như “manager” và “leader” trong tiếng Anh.
– Theo Haror Koontz, quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định.
– Theo Mariparker Follit (1868 – 1933), nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ thì: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”.
– Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500 năm nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện. Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học”. Theo ông thì người quản lý phải là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc.
Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”.
Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ khái niệm “tổ chức”. Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây chúng ta chỉ nói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích gì đó một con người riêng lẻ không thể đạt đến. Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình.
Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi; Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý); quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý).  Từ đó chúng ta có thể đưa ra định nghĩa:
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường.
Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý. Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan. Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao.